|
Đã
xuất hiện một số dự báo cho rằng, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong
quý 3/2009 có thể đạt trên 5,7%, cao hơn hẳn con số 4,5% của quý 2/2009
và 3,1% của quý 1/2009.
Nhưng,
Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam Benedict Bingham
mới đây đã cảnh báo, song hành cùng tăng trưởng - phục hồi, thâm hụt
cán cân tổng thể của Việt Nam có thể lên tới trên 3 tỷ USD, trở thành
rủi ro vĩ mô lớn nhất hiện nay.
Phân
tích những rủi ro đối với nền kinh tế, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu
và Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM) Võ Trí Thành nói:
-
Một tháng trước, IMF dự báo thâm hụt có thể lên tới 3 tỷ USD, nhưng do
chúng ta vừa vay được một số khoản từ nước ngoài, bối cảnh hiện nay
cũng khác, kiều hối cũng vào khá hơn một chút. Theo con số mới nhất mà
tôi được biết, dự báo thâm hụt cán cân tổng thể chỉ khoảng 1 tỷ USD
trong năm nay.
Một
tỷ USD thì vẫn nằm trong tầm kiểm soát, xét về dự trữ ngoại tệ, xét
tương quan vay ngắn hạn phải trả, xét về vay nợ, tỷ lệ nợ so với xuất
khẩu…
Vẫn đối mặt nhiều rủi ro
Tức là ông không phủ nhận vẫn tồn tại những rủi ro vĩ mô?
Với
cán cân vãng lai, theo nhiều dự báo năm nay sẽ giảm thâm hụt, nhưng vẫn
còn cao. Trong khi ấy, các nguồn vốn vào để bù đắp thâm hụt vãng lai
giảm, cho nên thâm hụt tổng thể vẫn có. Thâm hụt cả năm dự báo trên
dưới 1 tỷ USD. Trong khi lượng USD của Việt Nam rất nhiều, luẩn quẩn
đâu đó trong nền kinh tế, nhưng vấn đề là thị trường ngoại hối rất phân
khúc với tâm lý rất khác nhau, nên áp lực vẫn cao.
Thứ
hai là có có nhiều nhân tố có thể dẫn tới lạm phát, ví dụ như do tăng
chi tiêu Chính phủ, tăng tín dụng. Cung tiền vừa qua là cao. Ngoài ra
còn do tăng lương, vừa rồi điều tra cho thấy thu nhập danh nghĩa một số
khu vực tăng tới 16-17%.
Trong
khi đó, giá thế giới dù không tăng mạnh, nhưng giá nguyên vật liệu
không còn xu hướng giảm mà chỉ chững lại, hoặc đang tăng dần, mặc dù có
thể không cao như trước đây.
Cho nên, các yếu tố đóng góp cho việc giảm lạm phát từ bên ngoài cho đến hiện nay là không còn.
Đó
là chưa tính đến những vấn đề liên quan đến ổn định hệ thống tài chính.
Hiện nay, mặc dù hệ thống đã ổn định hơn so với cuối năm 2008, nhưng
đâu đó vẫn âm ỉ một số vấn đề.
Nhưng hệ thống tài chính vừa qua được cho là đang trong vòng kiểm soát?
Cho
đến nay, những chỉ số liên quan đến hệ thống tài chính vẫn được cho là
nằm trong tầm kiểm soát, ví dụ dư nợ cho vay bất động sản, dư nợ cho
vay tiêu dùng dân cư, cho vay chứng khoán… Con số là như vậy, nhưng
nhiều khi không thể kiểm soát được dòng tiền.
Nếu nhìn xa hơn, rủi ro vẫn còn. Dư nợ quá hạn, cho vay hỗ trợ lãi suất có thể có rủi ro.
Thứ
hai là tình trạng Đô la hóa tại Việt Nam còn cao. Với phân khúc của thị
trường ngoại hối Việt Nam vẫn có những cái không liên thông, cùng với
những biến động từ thanh toán quốc tế, cộng với cho vay không tốt… sẽ
dẫn đến rủi ro về lãi suất và tỷ giá, dẫn tới câu chuyện sai lệch về cơ
cấu đồng tiền và sai lệch cơ cấu thời hạn, mà vừa qua Ngân hàng Nhà
nước đã phải khống chế xuống 30% (tỷ lệ huy động ngắn hạn được cho vay
dài hạn - PV).
Những rủi ro vĩ mô ông vừa nói liệu sẽ diễn biến thế nào trong năm 2010?
Năm
tới, có một số vấn đề có thể dự báo được. Cụ thể, kinh tế nhiều khả
năng sẽ phục hồi, xuất khẩu tăng, nhưng nhập khẩu cũng sẽ tăng, nên
thâm hụt thương mại vẫn còn. Kể cả kiều hối vào nhiều thì thâm hụt vãng
lai vẫn tăng hơn năm nay, xét trên cả giá trị tuyệt đối và tương quan
so với GDP.
Trong
khi đó cũng có nhiều dự báo cho rằng nguồn vốn vào Việt Nam sẽ khá hơn,
cho nên cán cân tổng thể sẽ tốt hơn. Nhưng cũng có những ý kiến cho
rằng chưa chắc chắn với kịch bản ấy.
Một
yếu tố nữa là lạm phát năm sau tăng, theo ADB mới dự báo là khoảng
8-9%, vẫn trong 1 con số, nhưng như thế đã đạt mức cao hơn năm nay.
Bên
cạnh sự phục hồi là thông tin tốt, bên cạnh luồng vốn vào nhiều hơn thì
vẫn còn thâm hụt thương mại, thâm hụt vãng lai còn cao. Bản thân phân
khúc thị trường ngoại hối không thể xử lý ngày một ngày hai được, cộng
thêm một số rủi ro lạm phát và một số yếu tố còn bất ổn như đã nói ở
trên thì tình hình vẫn chưa phải đã hết khó khăn.
Phối hợp chính sách tiền tệ và tài khóa là quan trọng
Gần
đây, khi bàn về kế hoạch 2010, điểm được quan tâm nhiều nhất vẫn là
chính sách kích thích kinh tế. Theo ông, các chính sách này đã đến lúc
hết vai trò chưa?
Liên
quan đến chính sách tiền tệ, liên quan đến việc hỗ trợ của Chính phủ,
liên quan đến việc điều hòa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa,
thì năm tới có thể gọi là năm mà Chính phủ nên rút lui sự can thiệp
mạnh.
Chúng
ta đều biết, hỗ trợ là cần thiết, nhưng hỗ trợ ồ ạt thì phải rất ngắn.
Bởi vì các nước nói chung, bao gồm cả Việt Nam, nguồn lực không có
nhiều.
Thêm
nữa, chúng ta biết là can thiệp của Nhà nước, cần thì phải làm, nhưng
sẽ dẫn đến méo mó vì “kẻ khóc, người cười”, người được hưởng lợi, người
không được… Đã là ưu đãi thì bao giờ cũng có méo mó. Mà tính về lâu
dài, phân bổ nguồn lực mà méo mó thì sẽ không hiệu quả. Như thế thì
phải rút lui.
Thứ
ba là hỗ trợ như thế này thì mâu thuẫn với tái cơ cấu, với cải cách về
dài hạn, về nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, sức cạnh tranh của
doanh nghiệp. Cứu và cải cách thì bao giờ cũng có mâu thuẫn.
Ba lý do ấy, thì phải rút. Nhưng rút như thế nào thì còn phải phụ thuộc vào mấy yếu tố sau.
Thứ
nhất, quan trọng là vẫn phải đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu rút lui
mà hệ thống tài chính “liểng xiểng”, nợ xấu tăng thì không được.
Thứ hai, rút nhưng không được gây sốc.
Thứ
ba, rút để xã hội ý thức được rằng cơ bản vẫn phải đảm bảo theo thị
trường, cơ bản là phải đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh, phân bổ nguồn lực
không méo mó.
Ông có thể nói rõ những rủi ro có thể xảy ra cho nền kinh tế, nếu chính sách kích thích kinh tế được kéo dài trong năm tới?
Nếu
để kéo dài sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách lớn quá, tạo ra những rủi ro
kinh tế vĩ mô. Nới lỏng lâu quá sẽ dẫn đến lạm phát, bội chi ngân sách,
liên quan đến khả năng trả nợ nước ngoài…
Hoặc
vấn đề cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam vẫn còn, thâm hụt năm
sau có thể còn cao. Mặc dù các nguồn vốn hy vọng là sẽ vào nhiều hơn.
Trong
khi Việt Nam vẫn cần tiếp tục huy động trái phiếu để đảm bảo nguồn tiền
cho những dự án đã cam kết rót vốn, và những dự án có thể có vào năm
sau, chúng ta lại phải đối đầu với vấn đề lạm phát trong năm tới
Vậy theo ông, chính sách tiền tệ và tài khóa nên được kết hợp như thế nào?
Hãy
nhìn lại 4 nhóm chính sách bao gồm tiền tệ, thuế, tài khóa, và an sinh
xã hội. Về chính sách tiền tệ có thể nói rằng, khó có khả năng nới lỏng
tiếp. Lý do là bởi vì tổng phương tiện thanh toán đã cao.
Gói
hỗ trợ 4% lãi suất ngắn hạn, hiện nay nói chung đồng thuận là vẫn nên
có một gói hỗ trợ nữa, nhưng cách làm thì phải khác trước. Cũng có ý
kiến cho rằng nên thu hẹp phạm vi được hưởng để tránh đầu cơ trên nguồn
vốn được hỗ trợ. Nhiều người nói là nên để mức 2% hoặc ít hơn một chút.
Hỗ
trợ lãi suất trung và dài hạn đến 2011 thì đến nay mới giải ngân được
mấy chục ngàn tỷ. Gói ấy chúng tôi đề nghị nên bỏ. Hỗ trợ cho nông dân
mua thiết bị, máy móc thì gói này cũng rất nhỏ. Nói chung, quan điểm
của tôi là càng giúp được nông dân, giúp được người nghèo bao nhiêu thì
càng tốt bấy nhiêu.
Thứ
hai, về nhóm chính sách thuế thì tôi cũng đồng tình nên quay lại bình
thường. Có chăng thì ưu đãi thuế cho những đối tượng mới bị đánh thuế
thu nhập, vì chủ yếu họ dành tiền đó cho tiêu dùng.
Nhóm
thứ ba liên quan đến chính sách tài khóa, liên quan đến trái phiếu huy
động và giải ngân, liên quan đến thâm hụt ngân sách. Cho nên, vấn đề là
mức độ chi tiêu phải gắn với tổng thu như thế nào? Liên quan đến kế
hoạch ngân sách trong năm sau, phụ thuộc vào thuế, phụ thuộc vào chi
tiêu mà chúng ta sẽ quyết như thế nào?
Toàn
bộ cái ấy lại liên quan đến lãi suất, liên quan đến chính sách tiền tệ…
Để có chính sách đúng thì việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa là cực kỳ quan trọng.
Còn
với nhóm thứ tư, hỗ trợ an sinh xã hội thì nguyên tắc là làm được càng
nhiều càng tốt, để hỗ trợ cho người bị tổn thương. Nhưng vấn đề là
nguồn lực đến đâu.
Theo VnEconomy.
|