Trang chủ
Kinh tế
Công nghiệp
Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay
Kinh tế
Công nghiệp
Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay
| Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay |
|
|
|
Thực trạng và một số giải pháp khắc phục
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước
hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và
sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực
tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế
hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí,
các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn
xã hội.
Trong những năm đầu thực hiện
đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do
nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú
trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển
kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng
gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây
ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công
nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường
bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trong
ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và
làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho
phép.
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên
và Môi trường, tính đến ngày 20/4/2008 cả nước có 185 khu công nghiệp được Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương. Đến hết năm 2008, cả nước có khoảng trên 200 khu công nghiệp. Ngoài
ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban
khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ
thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15
- 20%, như Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ
thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí.
Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước thải tập
trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây
dựng trạm xử lí nước thải. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp
thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác.
Tại Hội nghị triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
ngày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn nước thuộc
lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng
mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo
vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện năm 2008 cho thấy,
lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu
và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả. Có khu vực, hàm
lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông
Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn
lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần... Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm
này chính là trên 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ
trong khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông
phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này. Dọc lưu vực
sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có
21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào
nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận... Có
nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ
lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây
trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân.
Nhìn chung, hầu hết các khu,
cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi
trường theo quy định. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa
phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư
lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường.
Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công
nghiệp... Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của
người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành
các xung đột xã hội gay gắt.
Cùng với sự ra đời ồ ạt các
khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục
hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương.
Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại
cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên
liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox
thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề
Việt Nam, hiện nay cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền
thống, đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao
động thường xuyên và lao động không thường xuyên#. Các làng nghề được phân bố
rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là Đồng bằng
sông Hồng, Bắc Trung bộ, Tây Bắc bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Riêng ở Đồng bằng
sông Hồng có 866 làng nghề, chiếm 42,9% cả nước. Hình thức các đơn vị sản xuất
của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp. Tuy
nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, chắp
vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải
ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn
kém, bên cạnh đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức
năng của Nhà nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ
công gây ô nhiễm môi trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng
nghề ngày càng trầm trọng và hiện nay đã ở mức “báo động đỏ”. Hoạt động gây ô
nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến
cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng
đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của bộ phận
dân cư này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt.
Bên cạnh các khu công nghiệp và
các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm
cũng ở mức báo động. Đó là các ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác
thải y tế, không khí, tiếng ồn... Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng
nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng.
Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp
xả ra môi trường mà không có bất kỳ một biện pháp xử lí nào ngoài việc vận
chuyển đến bãi chôn lấp. Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân
ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng
trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông thải ra hàng
trăm tấn bụi, khí độc. Trong tổng số khoảng 34 tấn rác thải rắn y tế mỗi ngày,
thì Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầu khí quyển của Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng báo động. Theo một kết
quả nghiên cứu mới công bố năm 2008 của Ngân hàng thế giới (WB), trên 10 tỉnh
thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất. Theo báo cáo của
Chương trình môi trường của Liên hợp quốc, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng
đầu châu á về mức độ ô nhiễm bụi.
Tình trạng ô nhiễm môi trường
nêu trên có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, song tập trung ở
các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, những hạn chế, bất
cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực
hiện của các cơ quan chức năng. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng
300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá
nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng
nguyên liệu trong sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa
hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng
văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ
đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt
động kinh tế... trong việc bảo vệ môi trường.
Thứ hai, quyền hạn pháp lí của
các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa
thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu
tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cở sở
pháp lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các
loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác
dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường. Rất
ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí
khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh
hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều,
hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp trây
ỳ nên cũng không có hiệu quả.
Thứ ba, các cấp chính quyền
chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường,
dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về
môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng
đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt
để tồn tại” còn phổ biến. Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối
với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức,
thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục,
dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao.
Thứ tư, công tác tuyên truyền,
giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy
được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc
tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường.
Thứ năm, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn
chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi
của thực tiễn. Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện
được những thủ đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi
trường.
Bảo vệ môi trường sinh thái
trong quá trình CHN, HĐH hiện nay là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cả hệ
thống chính trị, các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi công
dân. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, những năm qua Đảng và Nhà nước
ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, điển hình là
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày
21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ
Chính trị; Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi); các nghị định của Chính phủ hướng
dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường... Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp
quy này đi vào cuộc sống đã bước đầu tạo ra một số chuyển biến tích cực trong
hoạt động bảo vệ môi trường, song vẫn còn nhiều mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi
của thực tiễn. Để ngăn chặn, khắc phục và xử lí có hiệu quả những hành vi gây ô
nhiễm môi trường, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau
đây:
Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó những chế tài xử phạt (cưỡng chế
hành chính và xử lí hình) phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi
phạm. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản lí môi trường trong các
nhà máy, các khu công nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tổ chức giám
sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt đẹp và thân thiện hơn với con
người.
Hai là, tăng cường công tác nắm
tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường (thường xuyên, định kỳ,
đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng
thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp, nhằm phát hiện,
ngăn chặn và xử lí kịp thời, triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của
các tổ chức, cá nhân. Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội
ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường; trang bị các phương tiện kỹ thuật
hiện đại để phục vụ có hiệu quả hoạt động của các lực lượng này.
Ba là, chú trọng công tác quy
hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề, các đô thị, đảm
bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát
triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu
đồng bộ, chồng chéo như ở nhiều địa phương thời gian vừa qua, gây khó khăn cho
công tác quản lí nói chung, quản lí môi trường nói riêng. Đối với các khu công
nghiệp, cần có quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ
thống thu gom, xử lí nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động,
đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lí nước thải, rác thải
tại đó.
Bốn là, chú trọng và tổ chức
thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự
án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm
quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư. Việc quyết
định các dự án đầu tư cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích đem lại trước mắt
với những ảnh hưởng của nó đến môi trường về lâu dài. Thực hiện công khai, minh
bạch các quy hoạch, các dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân
có thể tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch và
dự án đó.
Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội. Theo Báo Khu Công Nghiệp Việt Nam. |
| < Trước | Tiếp > |
|---|
Các tin mới cập nhật
- Tháng 8: Xăng sinh học sẽ được bán tại 5 thành phố lớn
- Mười năm nhìn lại
- Kinh tế thị trường bền vững - Mô hình phát triển thiết yếu cho Việt Nam
- Làm sao để rau trái Việt Nam “trúng mùa, không rớt giá”?
- Chặng đường 15 năm Việt Nam đồng hành cùng ASEAN
- Tích tụ ruộng đất hợp lý để công nghiệp hóa nông nghiệp
- Điểm tin báo chí ngày 29/7/2010
- Miến-Điện phát triển vũ khí hạt nhân?
- Thị trường bán lẻ Việt Nam thu hút các "đại gia"
- Điểm tin báo chí ngày 28/7/2010
Các tin xem nhiều nhất
- Tình hình kinh tế và thị trường tài chính thế giới 27/8 - 03/9/2009
- Chính sách tài khoá "cãi" chính sách tiền tệ?
- Những quy tắc mới trong hôn nhân
- Vì sao phụ nữ lãnh cảm?
- Cuộc sống vẫn còn những cơ hội...
- Người yêu cũ – Con cá mất có phải là cá to?
- Những nỗi sợ khi lần đầu làm bố
- Vai trò của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam sau thời kỳ suy
- 4 tình huống dễ đẩy teen vào 'chuyện ấy'
- Tình đầu đâu dễ quên
Thị trường CK
| Mười năm nhìn lại + Đọc tiếp |
| Các bài khác |





















