|
Vì
nhiều lý do, Luật Ngân hàng Nhà nước mới vẫn giữ nguyên khái niệm lãi
suất cơ bản cho dù chúng gây tranh cãi suốt mấy năm nay. Nhưng có người
nói vui, đó chỉ là câu chuyện “đười ươi giữ ống”, quan niệm và hành xử
của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản ra sao mới là điều quan
trọng.
Hơn
10 năm trước, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu mặc dù
được coi là những lãi suất chủ đạo trong công cụ điều hành của Ngân
hàng Nhà nước nhưng sự tồn tại của chúng gần như chỉ trên giấy hoặc
mang tính chất chỉ định.
Cần tách bạch chức năng
Nói
vậy là bởi, tại thời điểm đó, hầu hết các khoản giao dịch cho vay của
Ngân hàng Nhà nước đối với tổ chức tín dụng đều mang tính chỉ định nên
lãi suất của các khoản vay này (tái cấp vốn) thực ra là lãi suất chỉ
định.
Còn
đối với lãi suất tái chiết khấu thì do thị trường tín phiếu kho bạc và
các giấy tờ có giá khác của Chính phủ hoạt động rất cầm chừng, lúc có
lúc không nên lãi suất của chúng (tái chiết khấu) cũng chỉ ở… trên
giấy!
Thậm
chí, ngay cả lãi suất thị trường, Ngân hàng Nhà nước cũng quy định
“trần - sàn” và nói tóm lại, các công cụ điều hành lãi suất lúc bấy giờ
chủ yếu mang tính chất tượng trưng, áp đặt và không phản ánh đúng bản
chất quan hệ về giá vốn trên thị trường.
Từ
thực tiễn này đã đặt ra yêu cầu phải có một loại lãi suất làm định
hướng cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Bởi vậy, năm
1997, khi Luật Ngân hàng Nhà nước ra đời, đã quy định: “Lãi suất cơ bản
là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín
dụng ấn định lãi suất kinh doanh”.
Đến
tháng 8/2000, lãi suất cơ bản chính thức đi vào cuộc sống nhưng trong
suốt 8 năm liền, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã “ấn định” nhưng rốt cục,
giao dịch trên thị trường không hề lấy lãi suất cơ bản làm “cơ sở”. Bởi
lẽ, không ai hiểu được Ngân hàng Nhà nước lấy cơ sở nào để lãi suất cơ
bản lúc thì 5%, lúc thì 7% hay 8%/năm.
Sự
mờ nhạt này được kết thúc đến đầu năm 2008, do chịu nhiều tác động tiêu
cực của khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế trong nước có nhiều diễn
biến bất thường: lạm phát phi mã, lãi suất mất ổn định cả trên thị
trường 1 và thị trường 2.
Trong
tình cảnh khó khăn đó, Ngân hàng Nhà nước đã có một dịp may không thể
may hơn: tại Bộ luật Dân sự có quy định lãi suất cho vay trong nền kinh
tế không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản.
Vậy
là Ngân hàng Nhà nước đã lấy luôn điều luật này để làm cơ chế điều hành
lãi suất và lập tức, mặt bằng lãi suất được ổn định trở lại.
Nhưng
cũng từ đó, lợi ích của bên gửi tiền và bên cho vay đều bị ảnh hưởng và
điều nguy hiểm là cơ chế này đã đưa Việt Nam trở về thời kỳ “trần lãi
suất” mà ngành ngân hàng đã mất hàng chục năm để xóa bỏ.
Một
năm qua, bằng nhiều cách khác nhau, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà
nước phải tháo gỡ dần cơ chế trên, như cho phép cho vay thỏa thuận đối
với thẻ, tiêu dùng và gần đây, cho vay thỏa thuận đối với các giao dịch
khác.
Nhưng
sự chờ đợi nhất từ các tổ chức tín dụng vẫn là giải quyết dứt điểm vấn
đề lãi suất cơ bản ngay trong Luật Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành.
Tuy
nhiên, vì nhiều lý do, Luật Ngân hàng Nhà nước vẫn quy định: Ngân hàng
Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi
suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi.
Nhiều
tổng giám đốc nói rằng: “Luật Ngân hàng Nhà nước vẫn quy định lãi suất
cơ bản nhưng đó chỉ là câu chuyện “đười ươi giữ ống” mà thôi”. Theo họ,
việc tháo gỡ “vòng kim cô” lãi suất cơ bản hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân
hàng Nhà nước.
Bởi,
nếu cơ quan này thiết kế được một mức lãi suất cơ bản phản ánh đúng giá
vốn thị trường, hình thành trên cơ sở các quan hệ kinh tế là ổn.
Làm thế nào để xác định lãi suất cơ bản?
Có
vẻ như “quả bóng” về lãi suất cơ bản đang thực sự ở trong chân của Ngân
hàng Nhà nước. Một vụ trưởng của Ngân hàng Nhà nước cho rằng, muốn lãi
suất cơ bản chính xác, khách quan và phù hợp với thị trường thì phải đi
từ thị trường.
Cụ
thể, Ngân hàng Nhà nước cần lấy tham chiếu lãi suất ở nhiều nhóm ngân
hàng thương mại khác nhau, sau đó thực hiện phép toán “bình quân gia
quyền” để công bố một mức lãi suất cơ bản.
Còn
ông Phạm Quốc Thanh, Phó tống giám đốc ABBank cho rằng, việc lấy “bình
quân gia quyền” qua “rổ lãi suất” của nhiều ngân hàng thương mại để
định ra lãi suất cơ bản cũng có mặt tích cực nhưng việc làm này lại có
mặt hạn chế là “từ thị trường rồi quay về định hướng cho thị trường”.
Ông
Thanh nêu ra một sáng kiến khác: một trong những loại lãi suất được các
ngân hàng thương mại coi trọng là lãi suất đấu thầu trái phiếu Chính
phủ, bởi chúng mang đậm dấu ấn của thị trường.
Theo
đó, Ngân hàng Nhà nước có thể dựa vào lãi suất trái phiếu Chính phủ của
nhiều kỳ hạn khác nhau (1, 3 hay 5 năm…) sau đó “chốt” lại một mức lãi
suất để làm lãi suất chủ đạo. Và lãi suất cơ bản phải được xây dựng
trên nền lãi suất chủ đạo này.
Ở
các nước có thị trường tài chính phát triển, lãi suất trái phiếu Chính
phủ là một trong những lãi suất chủ đạo trên thị trường mà nhà quản lý
căn cứ vào đó để điều hành chính sách tiền tệ.
Dĩ
nhiên, điều này sẽ tỏ ra hiệu quả khi mà thị trường thứ cấp phát triển
và làm như vậy sẽ còn góp phần hướng thị trường trái phiếu thứ cấp phát
triển hơn - điều mà Việt Nam cần hướng tới.
Tuy
nhiên, cũng có băn khoăn rằng, có những thời điểm thị trường trái phiếu
Chính phủ “ế ẩm” thì Ngân hàng Nhà nước không có cơ sở tham chiếu.
“Nếu
như vậy thì có thể do giá trái phiếu Chính phủ quá cao, không phản ánh
đúng giá thị trường và Chính phủ phải xem lại mức giá của mình đã phù
hợp hay chưa”, ông Thanh nói.
Đồng
tình với quan điểm này, bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân
hàng cũng chia sẻ: “Nếu đưa ra một mức lãi suất cơ bản phù hợp, không
chỉ tạo thuận lợi cho thị trường mà việc chống cho vay nặng lãi cũng
không đáng ngại, bởi “dư địa” chống cho vay nặng lãi vẫn còn tới 150%”.
Theo VnEconomy.
|